Việc bảo đảm
an toàn phòng cháy và chữa cháy (PCCC) là trách nhiệm liên đới và xuyên suốt từ
giai đoạn hình thành dự án cho đến khi đưa vào vận hành. Dưới đây là luận giải
chi tiết về trách nhiệm của các chủ thể và nguyên tắc phân định lỗi khi có sự cố
xảy ra.
1. Trách
nhiệm của Chủ đầu tư và Chủ sở hữu về PCCC
Trách nhiệm
này được quy định chặt chẽ trong Luật Phòng cháy và chữa cháy và các văn
bản hướng dẫn thi hành (như Nghị định 136/2020/NĐ-CP và các quy chuẩn kỹ thuật
QCVN 06:2022/BXD).
- Nghị định 105/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Đối với
Chủ đầu tư (Giai đoạn đầu tư xây dựng)
Chủ đầu tư
đóng vai trò thiết lập "hàng rào" an toàn kỹ thuật ngay từ đầu:
- Thiết kế và thẩm duyệt: Phải lập hồ sơ thiết kế về PCCC
và trình cơ quan có thẩm quyền thẩm duyệt đối với các công trình thuộc
danh mục quy định.
- Thi công và giám sát: Đảm bảo thi công đúng thiết kế
đã được duyệt; sử dụng vật liệu, thiết bị PCCC đạt chuẩn.
- Nghiệm mã: Phải tổ chức nghiệm thu về PCCC
trước khi đưa công trình vào sử dụng. Việc đưa công trình chưa được nghiệm
thu PCCC vào hoạt động là vi phạm nghiêm trọng.
Đối với
Chủ sở hữu (Giai đoạn vận hành)
Khi công
trình đã đi vào hoạt động, chủ sở hữu (hoặc người quản lý, sử dụng) có trách
nhiệm duy trì trạng thái an toàn:
- Duy trì điều kiện an toàn: Đảm bảo các lối thoát nạn, hệ
thống báo cháy, chữa cháy tự động luôn hoạt động tốt.
- Tổ chức lực lượng tại chỗ: Thành lập đội PCCC cơ sở, tổ chức
tập huấn nghiệp vụ và diễn tập phương án chữa cháy định kỳ.
- Chấp hành thanh tra: Thực hiện đầy đủ các yêu cầu,
kiến nghị của cơ quan Công an PCCC trong các đợt kiểm tra định kỳ hoặc đột
xuất.
2. Nguyên
tắc phân định lỗi khi xảy ra sự cố gây thiệt hại về người
Khi có sự cố
cháy nổ gây hậu quả nghiêm trọng (chết người hoặc bị thương), việc xác định
trách nhiệm pháp lý giữa Cơ quan quản lý nhà nước và Chủ sở hữu tài sản
dựa trên các nguyên tắc của pháp luật Hình sự và Hành chính:
Nguyên tắc
xác định mối quan hệ nhân quả
Lỗi được xác
định dựa trên việc hành vi vi phạm nào là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả.
- Lỗi của Chủ sở hữu: Thường liên quan đến việc không
duy trì điều kiện an toàn (khóa cửa thoát hiểm, không bảo trì hệ thống báo
cháy) hoặc tự ý thay đổi công năng công trình làm mất tác dụng của các thiết
kế PCCC đã duyệt.
- Lỗi của Cơ quan quản lý: Liên quan đến việc thiếu trách
nhiệm trong kiểm tra, giám sát hoặc cấp phép sai quy định.
Bảng so
sánh các căn cứ xác định lỗi
|
Chủ thể
|
Hành
vi dẫn đến lỗi
|
Hình
thức xử lý chính
|
|
Chủ sở
hữu/Quản lý
|
Vi phạm
quy định về PCCC (Điều 313 BLHS). Không trang bị, bảo trì thiết bị; tự ý cơi
nới trái phép.
|
Truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định PCCC.
|
|
Cơ quan
quản lý
|
Thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360 BLHS). Buông lỏng quản lý, cấp
giấy chứng nhận nghiệm thu khống.
|
Truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm hoặc lợi dụng chức vụ quyền hạn.
|
Nguyên tắc
"Lỗi hỗn hợp"
Trong nhiều
vụ việc thực tế, lỗi không chỉ thuộc về một bên.
- Nếu chủ sở hữu có vi phạm nhưng
cơ quan quản lý đã kiểm tra nhiều lần mà không phát hiện, không xử lý hoặc
để mặc cho vi phạm tồn tại, thì cả hai bên đều phải chịu trách nhiệm trong
phạm vi sai phạm của mình.
- Cơ quan quản lý không thể lấy lý
do "chủ sở hữu cố tình vi phạm" để thoái thác trách nhiệm nếu việc
kiểm tra, giám sát được thực hiện một cách hình thức, hời hợt.
3. Khía cạnh
dân sự: Bồi thường thiệt hại
Ngoài trách
nhiệm hình sự, việc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho nạn nhân được
thực hiện theo nguyên tắc:
- Bồi thường toàn bộ và kịp thời: Người có lỗi gây ra thiệt hại
phải bồi thường (Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015).
- Nếu thiệt hại xảy ra do lỗi của
nhiều người thì các bên phải liên đới bồi thường. Mức độ bồi thường
của từng người được xác định tương ứng với mức độ lỗi của họ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét